Trong quy trình xây dựng và hoàn thiện các không gian trình diễn nghệ thuật như nhà hát, thính phòng hay trung tâm hội nghị, việc đánh giá chất lượng âm thanh thường gặp nhiều tranh cãi do tính chất chủ quan của thính giác. Một công trình có thể được người này khen là “ấm”, nhưng người khác lại chê là “thiếu độ rõ”. Để giải quyết vấn đề này và đưa ra cơ sở nghiệm thu pháp lý minh bạch, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành tiêu chuẩn TCVN 10615-1:2014.
Đây là văn bản kỹ thuật quan trọng nhất hiện nay tại Việt Nam quy định về phương pháp đo các thông số âm thanh phòng, được xây dựng hoàn toàn tương đương với tiêu chuẩn quốc tế ISO 3382-1:2009. Với tư cách là đơn vị có 20 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực âm học, Công ty Liên Sơn xin phân tích chi tiết nội dung tiêu chuẩn TCVN 10615-1:2014 để Chủ đầu tư và các đơn vị tư vấn giám sát có cơ sở tham chiếu chính xác trong quá trình nghiệm thu dự án.
Phạm vi áp dụng và Các trạng thái đo đạc theo TCVN 10615-1:2014

Tiêu chuẩn TCVN 10615-1:2014 được quy định áp dụng cụ thể cho các “không gian trình diễn”. Đây là những không gian mà chất lượng âm thanh là yếu tố sống còn đối với công năng sử dụng, bao gồm phòng hòa nhạc, nhà hát kịch, nhà thờ và các hội trường đa năng. Khác với các tiêu chuẩn về tiếng ồn môi trường, TCVN 10615-1:2014 tập trung vào phản ứng của không gian đối với âm thanh.
Một điểm cốt yếu mà các bên tham gia nghiệm thu thường bỏ sót, dẫn đến sai lệch kết quả đo, chính là “Tình trạng sử dụng của phòng”. Theo mục 3.6 của TCVN 10615-1:2014, có ba trạng thái đo đạc riêng biệt cần được quy định rõ trong hợp đồng.
Thứ nhất là “Tình trạng không bị choán chỗ”. Đây là trạng thái phòng đã hoàn thiện đầy đủ nội thất, ghế ngồi, sẵn sàng sử dụng nhưng không có sự hiện diện của con người (ngoại trừ kỹ thuật viên đo đạc). Kết quả đo ở trạng thái này thường cho thời gian âm vang dài hơn thực tế vận hành.
Thứ hai là “Tình trạng phòng thu”, áp dụng khi chỉ có diễn viên hoặc nhạc công trên sân khấu và không có khán giả.
Thứ ba là “Tình trạng bị choán chỗ”, được định nghĩa khi có từ 80% đến 100% số ghế được sử dụng. Đây là trạng thái phản ánh trung thực nhất chất lượng âm thanh khi vận hành, nhưng lại khó thực hiện đo đạc nhất do yêu cầu huy động lượng lớn người. Do đó, khi áp dụng TCVN 10615-1:2014 để nghiệm thu, các bên phải thống nhất rõ ràng việc đo đạc sẽ thực hiện ở trạng thái nào, hoặc sử dụng phương pháp mô phỏng để quy đổi kết quả từ trạng thái “trống” sang trạng thái “có người”.
Nhóm thông số Suy giảm âm: T30 và EDT
Thông số cơ bản nhất mà TCVN 10615-1:2014 đề cập là Thời gian âm vang (Reverberation Time – T). Về mặt lý thuyết, T là khoảng thời gian cần thiết để mật độ năng lượng âm giảm đi 60 dB sau khi nguồn âm ngừng phát. Tuy nhiên, trong thực tế hiện trường, việc đo được trọn vẹn dải suy giảm 60 dB là rất khó do ảnh hưởng của tiếng ồn nền (như tiếng điều hòa, tiếng xe cộ).
Vì vậy, TCVN 10615-1:2014 quy định sử dụng các chỉ số thay thế dựa trên phương pháp ngoại suy, phổ biến nhất là T30 và T20. Chỉ số T30 được xác định bằng cách đo khoảng thời gian năng lượng âm suy giảm từ -5 dB đến -35 dB so với mức ban đầu, sau đó nhân đôi kết quả. Để đo được T30 theo chuẩn TCVN 10615-1:2014, thiết bị đo phải tạo ra mức áp suất âm cao hơn tiếng ồn nền ít nhất 45 dB. Đây là thông số vật lý đại diện cho thể tích và tổng lượng hút âm của căn phòng, giúp kỹ sư đánh giá xem thiết kế tiêu âm vách và trần đã đạt yêu cầu hay chưa.
Bên cạnh T30, tiêu chuẩn TCVN 10615-1:2014 còn giới thiệu một chỉ số quan trọng khác là Thời gian suy giảm sớm (Early Decay Time – EDT). Khác với T30, EDT được tính toán dựa trên độ dốc của 10 dB suy giảm đầu tiên (từ 0 dB đến -10 dB). Các nghiên cứu chủ quan được trích dẫn trong Phụ lục A của TCVN 10615-1:2014 chỉ ra rằng EDT có mối tương quan chặt chẽ hơn với “độ vang được cảm nhận” của thính giả. Trong một số nhà hát có hình dáng phức tạp, T30 có thể đạt chuẩn nhưng EDT lại quá ngắn hoặc quá dài, dẫn đến trải nghiệm nghe không tốt. Do đó, báo cáo nghiệm thu chuyên sâu của Liên Sơn luôn bao gồm cả hai chỉ số này.
Nhóm thông số Năng lượng: C80, D50 và G
Để đánh giá chất lượng âm thanh một cách toàn diện, chỉ đo độ vang là chưa đủ. TCVN 10615-1:2014 cung cấp các thông số định lượng về độ rõ và sức mạnh của âm thanh, giúp chuyển hóa các khái niệm trừu tượng thành số liệu cụ thể.
Đầu tiên là Độ rõ âm nhạc (Clarity – C80). Theo định nghĩa tại mục A.2.3 của TCVN 10615-1:2014, C80 là tỷ số logarit giữa năng lượng âm thanh đến sớm (trong 80 mili giây đầu tiên) và năng lượng âm thanh đến muộn (sau 80 mili giây). Chỉ số này cho biết mức độ tách bạch của các nốt nhạc. Nếu C80 quá thấp (âm thanh đến muộn lấn át), tiếng nhạc sẽ bị “nhòe” và dính vào nhau. Ngược lại, C80 quá cao sẽ làm âm thanh bị “khô”. Tiêu chuẩn TCVN 10615-1:2014 gợi ý dải đặc trưng của C80 nằm trong khoảng -5 dB đến +5 dB tùy thuộc vào loại hình biểu diễn.
Đối với các không gian hội thảo hoặc giảng đường, TCVN 10615-1:2014 sử dụng chỉ số Độ rõ (Definition – D50). Đây là tỷ lệ năng lượng âm thanh đến trong 50 mili giây đầu tiên so với tổng năng lượng. Chỉ số D50 càng cao (tiệm cận 1.0 hay 100%) thì khả năng nghe rõ lời thoại càng tốt.
Ngoài ra, một thông số thường bị bỏ qua nhưng rất quan trọng trong TCVN 10615-1:2014 là Cường độ âm (Sound Strength – G). Chỉ số G so sánh năng lượng âm tại một điểm trong phòng với năng lượng của cùng nguồn âm đó đo ở khoảng cách 10m trong trường tự do. Chỉ số này cho biết thính phòng có khả năng “khuếch đại” âm thanh tự nhiên hay không. Một phòng hòa nhạc thiết kế tốt theo chuẩn TCVN 10615-1:2014 sẽ có chỉ số G dương, giúp tiếng đàn của nghệ sĩ vang xa và dày hơn mà không cần hệ thống tăng âm điện tử.
Quy trình Đo đạc và Thiết bị tiêu chuẩn
Tính chính xác của kết quả đo phụ thuộc hoàn toàn vào việc tuân thủ quy trình và thiết bị quy định trong TCVN 10615-1:2014.
Về nguồn âm, tiêu chuẩn bắt buộc sử dụng nguồn âm đẳng hướng (Omnidirectional source). Nguồn âm này phải phát ra năng lượng âm thanh đều khắp mọi hướng để kích thích toàn bộ không gian phòng. Việc sử dụng các loại loa thùng định hướng thông thường (như loa hội trường, loa karaoke) để đo đạc là sai quy chuẩn kỹ thuật và sẽ dẫn đến sai số nghiêm trọng về phân bố năng lượng, khiến kết quả nghiệm thu theo TCVN 10615-1:2014 không còn giá trị.
Về vị trí đo, mục 4.3 của TCVN 10615-1:2014 quy định nguồn âm phải được đặt tại vị trí phát âm tự nhiên (thường là trên sân khấu), với độ cao 1,5m so với sàn. Đối với micro thu, vị trí đặt phải đại diện cho chỗ ngồi của khán giả, với độ cao tiêu chuẩn là 1,2m – tương ứng với chiều cao tai người ngồi nghe trung bình.
Số lượng điểm đo cũng được quy định chặt chẽ để đảm bảo tính đại diện cho không gian. Theo Phụ lục A, Bảng A.2 của TCVN 10615-1:2014, đối với khán phòng có 500 ghế, cần tối thiểu 6 vị trí micro; khán phòng 1000 ghế cần tối thiểu 8 vị trí; và con số này là 10 vị trí đối với khán phòng 2000 ghế. Khoảng cách giữa các vị trí micro phải cách nhau ít nhất 2m (nửa bước sóng) để tránh sự tương quan không gian.
Ứng dụng số liệu TCVN 10615-1:2014 trong Nghiệm thu
Việc áp dụng TCVN 10615-1:2014 không chỉ dừng lại ở việc lấy số liệu, mà là cơ sở pháp lý để đối chiếu giữa thiết kế và thi công thực tế. Trong quy trình làm việc của Liên Sơn, chúng tôi thực hiện các bước kiểm chuẩn nghiêm ngặt:
Bước đầu tiên là so sánh kết quả đo hiện trường (In-situ measurement) theo TCVN 10615-1:2014 với các thông số tính toán trong hồ sơ thiết kế âm học ban đầu. Sự sai lệch giữa hai bộ số liệu này phản ánh chất lượng thi công, sai số vật liệu hoặc các lỗi trong quá trình lắp đặt tiêu âm.
Tiếp theo, các chỉ số như T30, EDT, C80 đo được theo TCVN 10615-1:2014 sẽ được đánh giá dựa trên công năng sử dụng cụ thể của công trình. Ví dụ, một nhà hát đa năng cần có T30 trung bình khoảng 1.2 – 1.4 giây. Nếu kết quả đo ra 2.0 giây, công trình bị đánh giá là “dư vang”, cần bổ sung vật liệu hút âm. Ngược lại, nếu kết quả đo chỉ 0.8 giây, âm thanh sẽ bị “khô”, cần điều chỉnh lại các bề mặt phản xạ.
Với bề dày 20 năm kinh nghiệm, Công ty Liên Sơn tự hào là đơn vị tiên phong sở hữu hệ thống thiết bị đo đạc chuyên dụng đáp ứng cấp chính xác Loại 1 theo IEC 61672-1 và tuân thủ đầy đủ quy trình của TCVN 10615-1:2014. Chúng tôi cung cấp dịch vụ đo đạc và lập báo cáo nghiệm thu âm học độc lập, mang lại sự minh bạch và an tâm tuyệt đối cho Chủ đầu tư trước khi đưa công trình vào vận hành chính thức.
Việc hiểu và áp dụng đúng tiêu chuẩn TCVN 10615-1:2014 là “thước đo” khách quan nhất để bảo vệ giá trị đầu tư của công trình. Thay vì tranh cãi dựa trên cảm tính, hãy để các con số kỹ thuật lên tiếng. Nếu quý Chủ đầu tư và các đối tác cần tư vấn chuyên sâu về quy trình đo đạc, kiểm chuẩn và xử lý âm học, hãy liên hệ với đội ngũ kỹ thuật của Liên Sơn để được hỗ trợ giải pháp tối ưu nhất.
Liên hệ ngay để nhận tư vấn giải pháp âm học chuyên nghiệp
Để được tư vấn về giải pháp âm học phù hợp nhất cho dự án của bạn.
Hãy liên hệ ngay với Liên Sơn qua:
Hotline: 090.665.3523
Email: info@lienson.com
Website chính thức: https://lienson.com
Facebook: Liên Sơn Acoustic Engineering – Giải pháp âm học
